Lập được chuỗi cung ứng, sản xuất trên 50% giá trị thì sản phẩm dệt may Việt Nam mới được hưởng ưu đãi thuế quan khi EVFTA có hiệu lực. 

Tại toạ đàm “Ngành dệt may trước cơ hội, thách thức EVFTA” ngày 2/8, ông Lương Hoàng Thái – Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cho hay, 77% dòng thuế trong ngành hàng dệt may sẽ về 0% ngay khi EVFTA có hiệu lực. So với quy tắc ưu đãi thuế quan phổ cập chung (GSP) trước đây thì EVFTA có những thay đổi nhưng không khác biệt lớn. Cụ thể, Việt Nam phải sản xuất trên 50% giá trị, đảm bảo nguyên tắc xuất xứ từ vải, sợi trở đi, nhưng được cộng gộp với nguyên liệu nhập từ đối tác mà EU có hiệp định, như Hàn Quốc. 

Song, muốn tận dụng cơ hội thuế quan thì dệt may phải tạo lập chuỗi cung ứng, đáp ứng được quy tắc xuất xứ từ sợi, vải của hiệp định này. “Đây đang là thách thức lớn cho ngành truyền thống như dệt may”, ông Thái nói. 

Cũng thừa nhận nút thắt lớn nhất với dệt may là quy tắc xuất xứ hàng hoá “từ sợi, vải trở đi”, ông Vũ Đức Giang – Chủ tịch Vitas cho hay, hiện với 90% nguyên liệu nhập khẩu từ các thị trường không phải là thành viên của EU, đồng nghĩa dệt may Việt Nam sẽ không được hưởng ưu đãi thuế. Gỡ nút thắt này, theo ông Giang, không cách nào khác là dệt may phải tạo lập chuỗi giá trị cung ứng nội ngành bền vững, ổn định. 

Ông cho biết, trước đây đầu tư nước ngoài vào dệt may không có lực hút, nhưng 3 năm nay, hàng loạt doanh nghiệp lớn từ Mỹ, châu Âu đã vào nhiều, rót vốn vào một số dự án dệt nhuộm, sợi ở Việt Nam để cùng ngành này “hoá giải thách thức về quy tắc xuất xứ, hưởng ưu đãi thuế quan khi EVFTA có hiệu lực”.

“Mới đây một tập đoàn Đức đã đầu tư dự án kéo sợi len lông cừu lớn vào ngay trung tâm Đà Lạt. Rồi tập đoàn của Israel, của Mỹ đầu tư vào dệt ở Bình Định, nhuộm ở Nam Định…”, ông Giang dẫn chứng, đồng thời cho hay đang có một làn sóng đầu tư FDI vào nguyên phụ liệu dệt may. Thặng dư thương mại của dệt may Việt Nam tăng nhanh một phần nhờ chủ động được nguyên phụ liệu sản xuất trong nước.

Công nhân vận hành dây chuyền sản xuất sợi. Ảnh: TL

Ông nói thêm rằng, đến nay Việt Nam đã có 10 triệu cọc sợi, năm 2018 xuất khẩu sợi đã thu về trên 3 tỷ USD. “Sợi năm nay sẽ không còn không phụ thuộc Trung Quốc, mà sẽ thu về khoảng 1,8 tỷ USD từ thị trường này”, ông Giang nói.

Nhưng có một thực tế được Chủ tịch Vitas chỉ ra, hàng loạt địa phương đang từ chối các dự án dệt nhuộm vì lo ngại ảnh hưởng môi trường. 

“Hệ thống công nghệ xử lý nước thải của thế giới tiên tiến vô cùng. Chúng tôi đầu tư tư một nhà máy ở khu công nghiệp Bảo Minh, đứng sát nhà máy không thấy mùi, không thấy nước có màu đậm như trước đây nữa. Chúng ta cũng đã đến giai đoạn tái sử dụng nguồn nước thải để sản xuất”, ông Giang nói. Cho nên, Chủ tịch Vitas trấn an các địa phương không quá lo lắng vấn đề này. “Khách hàng của ta họ đánh giá khắt khe hơn nhiều cơ quan quản lý địa phương. Nếu không tuân thủ điều khoản về môi trường thì họ cũng không mua hàng của ta”, ông Giang bộc bạch.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO (VCCI) cũng cho rằng, trước đây có một số trường hợp buông lỏng thực thi bảo vệ môi trường gây ảnh hưởng nhiêm trọng. Điều đó khiến cơ quan quản lý cũng như xã hội nhìn nhận dệt nhuộm làm ảnh hưởng môi trường nên phải từ chối các dự án này. Các địa phương, cơ quan quản lý nhà nước thấy không quản được thì không cho làm, khỏi phải quản. Đó là điều chúng ta rất không mong muốn.

Theo đại diện Trung tâm WTO, chúng ta phải thấy bất cập chỗ nào thì xử lý chỗ đó, phải có sự phối hợp để giải quyết vấn đề môi trường trong dệt may, dệt nhuộm. “Thế giới thay đổi rồi, công nghệ khác rồi. Nếu nhìn công nghệ những năm 80-90 cho ngành dệt nhuộm bây giờ thì không còn phù hợp nữa”, bà Trang chia sẻ.

Với những yêu cầu cao về quy tắc xuất xứ trong EVFTA, cũng như trong nhiều hiệp định khác, bà Trang đánh giá, là cơ hội thúc đẩy đầu tư vào các ngành vốn gặp nút thắt nguồn cung như dệt, nhuộm, sợi, thiết kế… để nâng giá trị trong đường cong chuỗi giá trị của sản phẩm dệt may. 

Anh Minh



Source link